CÁC PHƯƠNG PHÁP THÔNG KHÍ THÔNG THÔNG ĐÀM TRONG BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH

05/06/2022
Tin về các bệnh hô hấp
Lượt xem: 303

CÁC PHƯƠNG PHÁP THÔNG KHÍ THÔNG ĐÀM

Ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, thường có tình trạng tắc nghẽn các đường đẫn khí do viêm nhiễm mạn tính và ứ khí trong lồng ngực do các phế nang bị hư hỏng, mất tính co giãn. Hậu quả là không khí thường bị nhốt lại trong phổi kém lưu thông và dẫn đến thiếu oxy cho nhu cầu cơ thể.

Các phương pháp thông khí là các kỹ thuật nhằm khắc phục tình trạng ứ khí trong phổi và tăng cường cử động hô hấp của lồng ngực. Bao gồm 2 kỹ thuật cơ bản:

- Thở chúm môi

- Thở cơ hoành

THỞ CHÚM MÔI

Thở chúm môi là phương pháp giúp cho đường thở không bị xẹp lại khi thở ra nên khí thoát ra ngoài dễ dàng hơn, nhờ vậy cô bác có thể hít được không khí trong lành.

KỸ THUẬT

  1. Tư thế ngồi thoải mái. Thả lỏng cổ và vai. Hít vào chậm qua mũi.
  2. Môi chúm lại như đang huýt sáo, thở ra bằng miệng chậm sao cho thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào.

 

 

Thở chúm môi là một phương pháp thở khá hữu hiệu giúp cho cô bác giảm bớt tình trạng ứ khí trong lồng ngực và giảm bớt khó thở, lại rất dễ tập luyện. Mỗi khi cô bác bị khó thở, nên lập đi lập lại động tác thở chúm môi nhiều lần cho đến khi hết khó thở. Tập nhiều lần sao cho thật nhuần nhuyễn và trở thành thói quen. Khi đó, cô bác nên dùng kỹ thuật thở chúm môi bất cứ lúc nào cảm thấy khó thở, như đi cầu thang, tắm rửa, tập thể dục…

 

 

 

THỞ CƠ HOÀNH

Ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính do tình trạng ứ khí trong phổi nên lồng ngực bị căng phồng làm hạn chế hoạt động của cơ hoành. Vì cơ hoành là cơ hô hấp chính, nếu cơ hoành hoạt động kém sẽ làm thông khí ở phổi kém và các cơ hô hấp phụ phải tăng cường hoạt động.

Tập thở cơ hoành sẽ giúp tăng cường hiệu quả của động tác hô hấp và tiết kiệm năng lượng.

 

 

 

KỸ THUẬT

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nên tập thở cơ hoành nhiều lần trong ngày cho đến khi trở thành thói quen. Sau khi đã nhuần nhuyễn kỹ thuật thở cơ hoành ở tư thế nằm hoặc ngồi, nên tập thở cơ hoành khi đứng, khi đi bộ và cả khi làm việc nhà.

 

CÁC KỸ THUẬT THÔNG ĐÀM

Các kỹ thuật thông đàm là những được áp dụng khi cô bác có nhiều đàm nhớt trong phổi làm cản trở hô hấp hoặc khi cô bác gặp khó khăn trong việc khạc đàm. Các chất đàm nhớt bám trên thành các phế quản luôn luôn có tác động không tốt đến hô hấp vì đàm nhớt làm cho đường thở kém thông thoáng và làm cản trở luồng khí ra vào phổi. Ngoài ra, đàm nhớt ứ đọng nhiều trong phế quản cũng là nơi dễ gây nhiễm khuẩn từ đó dẫn đến nhiễm trùng hô hấp.

Mỗi khi các phế quản bám đầy đàm nhớt, theo phản xạ tự nhiên của cơ thể, ta luôn có cảm giác muốn ho do các kích thích ở cổ họng nhằm mục đích tống đàm ra ngoài. Tuy nhiên cơn ho xảy đến do phản xạ thường làm người bệnh mệt, khó thở nhưng lại không hiệu quả do luồng khí thường không đủ để đẩy đàm di chuyển. Nhiều khi cơn ho làm cho cô bác cảm thấy lo lắng và ngượng ngùng ở nơi công cộng.

 

Kỹ thuật ho có kiểm soát là 1 động tác ho hữu ích giúp tống đàm ra ngoài, làm sạch đường thở nhưng không làm cho cho cô bác mệt, khó thở… Mục đích của ho có kiểm soát không phải để tránh ho mà lợi dụng động tác ho có hiệu để làm sạch các phế quản. Cô bác mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nên sử dụng kỹ thuật ho có kiểm soát để thay thế những cơn ho thông thường dễ gây mệt mà lại kém hiệu quả.

 

KỸ THUẬT HO CÓ KIỂM SOÁT

1 Ngồi trên ghế thoải mái.  Hít vào chậm và sâu             

2. Nín thở trong vài giây

 3.Ho mạnh 2 lần.

Lần đầu để long đàm,  lần sau

để đẩy chúng ra ngoài. Khạc đàm

 vào lọ hoặc khăn giấy

Tuỳ lực ho của mỗi người mạnh yếu khác nhau, có khi phải lập lại nhiều lần kỹ thuật này nhiều lần mới đẩy được đàm ra ngoài.

Như vậy, mỗi khi cô bác có cảm giác muốn ho, xin đừng cố gắng nín ho mà nên thực hiện kỹ thuật ho có kiểm soát để giúp tống đàm ra ngoài.

KỸ thuẬt thỞ  ra mẠnh:

Một số cô bác có lực ho yếu hoặc cũng bị mệt ngay cả khi dùng kỹ thuật ho có kiểm soát có thể thay thế bằng kỹ thuật thở ra mạnh. Kỹ thuật thở ra mạnh là kỹ thuật nhằm thay thế động tác ho có kiểm soát trong những trường hợp người bệnh không đủ lực để ho. Kỹ thuật thở ra mạnh gồm 4 bước

- Bước 1: Hít vào chậm và sâu.

- Bước 2: Nín thở trong vài giây.

- Bước 3: Thở ra mạnh và kéo dài sao cho âm thanh nghe được như tiếng “khà”.

- Bước 4: Hít vào nhẹ nhàng. Hít thở đều vài lần trước khi lập lại.

HỖ TRỢ THÔNG ĐÀM

Bên cạnh các kỹ thuật thông đàm, cô bác nên chú ý đến các biện pháp hỗ trợ cho việc thông đàm. Cô bác nên uống đủ nước hàng ngày, trung bình từ 1lít – 1,5lít nước để làm đàm loãng và có thể khạc ra dễ dàng hơn. Cần lưu ý ở người lớn tuổi, cảm giác khát nước thường giảm so với lúc trẻ nên cô bác nên đong sẵn lượng nước uống hàng ngày hơn là chỉ uống khi thấy khát. Đặc biệt ở những cô bác thở oxy dài hạn tại nhà cần chú ý đến việc uống nước nhiều hơn vì khí oxy dễ làm khô các dịch tiết trong phế quản.

Ngoài ra, khi dùng thuốc ho, nên hỏi ý kiến bác sĩ. Chỉ nên dùng các loại thuốc ho long đàm, không nên dùng các thuốc có tác dụng ức chế phản xạ ho (Terpin codein…)

 

Tóm lại, thông khí và thông đàm là các phương pháp hỗ trợ cần thiết cho hô hấp, giúp cho cô bác thở dễ dàng hơn, giảm bớt khó thở, giảm bớt ứ khí trong lồng ngực và có thể tống đàm ra ngoài hiệu quả mà không bị mệt.

Chia sẻ

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

KỸ THUẬT SỬ DỤNG THUỐC ĐƯỜNG HÍT

Có nhiều phương pháp đưa thuốc vào trong cơ thể nhằm mục đích chữa trị bệnh. Phương pháp đơn giản và cổ điển nhất là dùng đường uống, kế đến là các phương pháp tiêm chích (tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp, tiêm dưới da…) hoặc qua đường hấp thu qua da (thuốc dạng kem, mỡ, cao dán…). Ngoài ra, còn có qua đường hậu môn (thuốc nhét hậu môn), đường ngậm dưới lưỡi, đường hít…   Sử duïng thuoác ñöôøng hít töùc laø phöông phaùp ñöa thuoác tröïc tieáp vaøo ñöôøng hoâ haáp döôùi daïng caùc haït li ti lô löûng trong khoâng khí. Các hạt li ti có kích thước rất nhỏ (dưới 5 mm) mới có thể theo luồng hơi thở hít vào đi theo các phế quản nhỏ đến tận các túi phế nang, còn các hạt có kích thước lớn hơn thường chỉ dừng lại và rơi xuống ở các phế quản lớn. Để có thể đưa thuốc dưới dạng các hạt li ti này vào cơ thể một cách đầy đủ, người bệnh cần phải nắm vững các bước và thực hiện chính xác các thao tác.

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH VÀ THUỐC LÁ

Tình hình hút thuốc lá trên thế giới và trong nước

SUY DINH DƯỠNG Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Từ xưa đến nay, ông bà ta đã biết rằng dinh dưỡng là một trong những phương pháp cần thiết để giữ gìn sức khỏe, khắc phục bệnh tật, kéo dài tuổi thọ. Đối với những người phải chịu đựng những bệnh tật khác nhau, dinh dưỡng còn là một biện pháp hỗ trợ giúp tăng cường sức khỏe làm cho căn bệnh phục hồi nhanh chóng hơn. Còn đối với một số căn bệnh được gọi là “mãn tính” tức là kéo dài rất nhiều năm cho đến cuối đời như bệnh tiểu đường, cao huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính…, biết cách dinh dưỡng hợp lý không chỉ có tác dụng hỗ trợ mà còn được xem là một biện pháp điều trị cần thiết giúp cho người bệnh có thể “sống chung hòa bình” với căn bệnh. Đặc biệt đối với bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, điều chỉnh dinh dưỡng được xem là một trong biện pháp điều trị không dùng thuốc có vai trò quan trọng trong việc tăng cường chất lượng cuộc sống của người bệnh.    

BỆNH LAO Ở PHỤ NỮ CÓ THAI

Nguy cơ nhiễm lao và mắc bệnh lao ở phụ nữ có thai

HEN SUYỄN Ở TRẺ EM

Hen suyễn là bệnh khá thường gặp ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi. Thống kê cho thấy tỷ lệ trẻ em bị hen suyễn cao gấp đôi so với người lớn.  Trẻ trai thường bị mắc hen suyễn hơn trẻ gái. Theo xu hướng chung trên toàn thế giới, số lượng bệnh nhân suyễn, cả người lớn và trẻ em, cng ngy cng gia tăng đáng kể. Tại Pháp, người ta ước tính rằng cứ 10 phút sẽ có một bệnh nhi hen suyễn tương lai chào đời. Và trung bình trong mỗi lớp học sẽ cĩ từ 2 – 3 học sinh bị hen suyễn. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay có khoảng 10% trẻ em dưới 15 tuổi trên thế giới bị hen suyễn. Tại TP.HCM, số liệu từ một số nghin cứu ở quận 10 cho thấy khoảng 10% trẻ em bị hen suyễn. Hen suyễn ở trẻ em cĩ thể đưa đến những hậu quả xấu cho trẻ, trước mắt cũng như lâu dài: Trẻ thường xuyên bị lên cơn, nhất là về ban đêm làm trẻ không ngủ được, không thể vui chơi, chạy nhảy như các trẻ khác, ảnh hưởng về sự pht triển thể chất v tinh thần của trẻ. Trẻ cũng phải thường xuyên nghỉ học do bệnh hoặc để đi khm bệnh, thậm chí phải đi cấp cứu, nhập viện vì khĩ thở, ảnh hưởng đến sự chuyn cần v việc tiếp thu bi vở. Tuy bệnh ít gy tử vong, nhưng theo Tổ chức Y Tế Thế giới hàng năm cũng có khoảng 25.000 trẻ em chết vì hen suyễn trn tồn thế giới, v rất đng tiếc l hầu hết đều là những trường hợp tử vong không đáng có.

HEN SUYỄN VÀ DỊ ỨNG THỨC ĂN

Dị ứng thức ăn là tình trạng cơ thể phát sinh ra một số phản ứng không thuận lợi (còn được gọi là phản ứng dị ứng) sau khi ăn một loại thức ăn nào đó. Lên cơn hen suyễn cấp tính sau khi ăn một loại thực phẩm nào đó cũng được gọi là dị ứng thức ăn và loại thực phẩm ấy được xem là một trong những tác nhân làm khởi phát cơn hen suyễn cấp. Phần lớn các tác nhân làm khởi phát cơn hen suyễn cấp tính là các dị nguyên trong không khí như mạt bụi nhà, phấn hoa, lông súc vật, nấm mốc…, chỉ có một số ít loại thức ăn, đồ uống cũng có thể gây ra cơn hen suyễn cấp với tỉ lệ thấp. Theo thống kê ở Mỹ, có khoảng 6 – 8 % ở trẻ em dưới 3 tuổi và khoảng 2% ở người lớn bị dị ứng với thức ăn. Một số ít trong những người này mắc bệnh hen suyễn và có thể bị khởi phát cơn hen sau khi ăn các loại thực phẩm này.

ĐẶT LỊCH NGAY

BS Oanh

 Thứ 2, Thứ 3, Thứ 5, Thứ 6: 18 – 20g

Thứ 7: 7g30 – 9g30

 

BS Trí

Thứ 4: 18 - 20g

 

HOTLINE LIÊN HỆ: 0908 120 626